Share On Facebook
Share On Twitter
Share On Google Plus
Contact us

Chuyện nghề gieo chữ lưng trời

Bài viết  bởi Vũ Thanh – một thành viên nhóm quản lý dự án Xây Trường Cho Em 2014

 

Chồng em cũng làm giáo viên ở một trường vùng cao sát biên thuộc xã Đức Hạnh, Bảo Lạc, Cao Bằng. Chỗ em và chồng chỉ cách nhau chừng vài cây số chim bay. Thế nhưng đường không có, nếu muốn đến thăm, chồng em phải đi đường vòng xuống huyện mất gần 200 cây số mới đến đây, toàn những chố đường chẳng ra đường anh ạ….

Gieo chữ nơi lưng trời

Sơn Vĩ là xã xa nhất và có địa bàn cao nhất của huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Xã nghèo có tới 452 hộ dân nằm trong danh sách nghèo đói theo số liệu báo cáo. Trên thực tế, số liệu báo cáo về nghèo đói của xã này còn tốt đẹp hơn nhiều so với cái đói nghèo thấy được ở đây. Nghèo đất đai bởi địa bàn toàn núi đá tai mèo, nghèo nước sinh hoạt bởi địa bàn vùng cao đến nước sông, nước suối cũng không có, nghèo bởi mùa đông thời tiết rét buốt, khắc nghiệt, mùa hè thì nắng dội sát đầu không cây gì sống nổi, người dân lại đẻ nhiều con… Chính bởi vậy mà cái nghèo đeo bám mãi lấy người dân không sao thoát được. Từ nhiều năm nay đồng bào các dân tộc trong xã luôn phải sống trong cảnh khó khăn, thiếu thốn trăm bề.

Nằm xa nhất và có địa hình hiểm trở nhất của xã Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. quanh năm nắng gió và sương mù. Để đến được Sơn Vĩ là cả một hành trình chinh phục đèo, núi và mây, qua tuyến đường độc đạo uốn lượn quanh những đỉnh núi cao chót vót, nằm nép mình bên bờ vực sâu hun hút với những vòng cua gấp. Những con dốc đã trở thành nỗi ám ảnh ngay cả với những cư dân bản địa nơi đây như dốc “Bà Sèo”, dốc “Ông Phủ”… khiến con đường như dựng đứng lên trời, có lúc lại chúi như lao xuống lòng vực sâu. Con đường như bám sát vào vành đai biên giới với nước láng giềng Trung Quốc, nhiều chỗ chỉ cần sơ ý là sẽ đi lạc sang phía bên kia biên giới bởi sự “mong manh” của những ngã rẽ không biển báo “phải những hôm trời có sương mù đậm đặc, lạc đường sang bên kia biên giới là chuyện rất dễ xẩy ra” một cán bộ đồn biên phòng Lũng Làn, Sơn Vĩ chi sẻ với đoàn chúng tôi khi đã “cán đích” an toàn.

Những đoạn dốc của con đường vẫn chưa phải là điều ghê gớm nhất. Khi qua ngã ba đường đi Sín Cái và cửa khẩu Săm Pun. Chặng đường thực sự trở nên khổ ải, đường hẹp, nhiều hoàn toàn là đường mòn, mặt đường nhiều đoạn toàn đá hộc, đá tai mèo sắc nhọn, những đoạn khác thì toàn đất đỏ bụi mù khi trời nắng hoặc trơn nhầy nhụa mỗi lúc ẩm trời, chưa nói đến chuyện có mưa. Chuyện chinh phục hết 40km đường để đến với xã vùng cao biên giới này đã là cả một hành trình gian khổ, “mang chữ” lên đây nơi lưng trời để dậy, để học còn cơ khó muôn bề.

Sơn Vĩ đẹp y như cái tên của nó. Từ trên cao nhìn xuống, phong cảnh thiên nhiên như một bức tranh tuyệt mỹ, những thửa ruộng bậc thang uốn lượn bám vào sườn núi, dòng Nho Quế mát xanh bé như nét vẽ mỏng manh uốn lượn trên tấm thảm mầu xanh xám của núi rừng. Giữa cảnh quan sơn thủy ấy, những ngôi trường “cắm bản” trên lưng núi lại mang dáng vẻ xơ xác, xiêu vẹo đễn nỗi bất cứ ai nhìn thấy cũng không khỏi gai lòng.

Ngồi trong gian nhà gỗ hở hoác được che chắn bởi những tờ báo cũ dán xung quanh, vừa được dùng làm nhà ở cho giáo viên, vừa là nhà bếp, vừa là phòng học cho học sinh tại điểm trường Lẻo Chá Phìn B, Cô giáo Nông Thị Ngân chia sẻ: “Địa bàn rừng núi, từ bản ra đến trung tâm xã mất nửa ngày đi bộ nên các em không thể đi học được, nhà trường phải xây dựng các điểm trường “cắm bản” như thế này để các em được đi học. Cũng vì vậy mà các em phải học trong những gian nhà tạm, tranh tre nữa lá. Giáo viên cũng phải ở lại trường”.

Không được may mắn học trong các gian nhà gỗ như ở điểm trường Lẻo Chá Phìn B. Các em học sinh tại điểm trường Séo Hồ, điểm trường xa nhất, cách trung tâm xã khoảng 15km đường mòn qua núi phải học trong những gian nhà xe quây tạm bốn vách bằng tre, lá. Trước đây, lớp học này vốn chỉ là một lán có mái che dung làm nơi để xe của 7 thầy cô giáo đang công tác tại điểm trường. Khi số học sinh trong bản tăng lên, trường chỉ có 3 phòng học là ba gian nhà gỗ vỗn đã xiêu vẹo và không đủ cho việc dậy học ở cả 5 khối lớp cấp 1 nên đành phải quây tạm bốn góc khu nhà xe này bằng tre nứa rồi ngăn đôi làm hai khu cho một lớp mầm non và một lớp mẫu giáo. Các em quanh năm ngồi học cùng nắng gió, sương núi và cả cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông vùng cao, nơi lưng trời – đỉnh núi này. Cô giáo Ma Thị Bương, giáo viên lớp nhà trẻ mới về nhận công tác được non năm ngậm ngùi chia sẻ: “Khổ nhất là các em nhỏ, vào những ngày thời tiết khắc nghiệt, chúng em đứng lớp còn không chịu nổi cái lạnh ở đây, đứng lớp một lúc thì người như hóa đá. Ấy vậy mà các em em nhỏ đến lớp còn không đủ quần áo ấm, gió lùa thông từ bốn phía chả biết đi đâu mà tránh rét. Nhiều em biết lạnh nên không đến lớp, tội nhất những em vẫn cố đến trường, đành cho các em vào tránh rét trong gian phòng ở chung tạm bợ của giáo viên, khó khăn không kể đâu cho hết được…”.

chinh phục hết 40km đường để đến với xã vùng cao biên giới này đã là cả một hành trình gian khổ, “mang chữ” lên đây nơi lưng trời để dậy, để học còn cơ khó muôn bề

“Chinh phục hết đường để đến với xã vùng cao biên giới đã là cả một hành trình gian khổ, “mang chữ” lên đây nơi lưng trời để dậy, để học còn cơ khó muôn bề”

Cô giáo cô đơn

Đến điểm trường Lẻo Chá Phìn B, hai gian phòng bé xíu nằm chon von nơi con dốc cũng chon von trên con đường mòn vào bản. Lớp học lợp tấm pro-cimen, bàn ghế tuềnh toàng, vách tường là những tấm phên tre được dán kín nửa phần bên dưới bởi những tờ báo cũ, tranh chữ và cả những tờ “báo tường” do các cô giáo tự làm để phục vụ việc dậy học, vừa để chắn gió cho gian phòng trống trải đơn sơ. Bảng đen là một tấm ván ép cong queo sứt mẻ. Mới thoạt nhìn tôi không thể hiểu làm sao các cô giáo có thể dậy học sinh trong một môi trường như vậy. Phía đầu hồi là “buồng” cô giáo, cũng là lớp học của khối mầm non. Mùa đông, phòng cô giáo đỡ lạnh hơn một chút bởi trong phòng ở cũng chính là gian bếp của nhà trường, có thêm một bếp củi ngay trong phòng, vừa để nấu nướng, vừa để chống đỡ với cái lạnh ở nơi lung trời sương phủ này. Cũng chính vì vậy mà phòng này được dung làm lớp mầm non.

Trong gian phòng ngủ tối om chỉ kê vừa đủ chiếc giường đơn. Tài sản đơn sơ của cô giáo chỉ có một chiếc hòm tôn để dưới gầm giường, trên chiếc bàn tre là hai chồng sách vở. Nếu không có một cô giáo trẻ đang ngồi soạn bài bên chiếc bàn con kê trước của, chắc chắn toi không thể nhận ra rằng đây chính là nơi ở của giáo viên.

Sững sờ đôi chút vì có khách đến chơi, cô giáo Ngân bỏ bút đứng dậy ra ngoài đón khách với cái bụng bầu tháng thứ 7 nặng nề, luống cuống, trên này chả bao giờ có khách. “Chồng em cũng làm giáo viên ở một trường vùng cao sát biên thuộc xã Đức Hạnh, Bảo Lạc, Cao Bằng. Chỗ em và chồng chỉ cách nhau chừng vài cây số chim bay. Thế nhưng đường không có, nếu muốn đến thăm, chồng em phải đi đường vòng xuống huyện mất gần 200 cây số mới đến đây, toàn những chố đường chẳng ra đường anh ạ….” Nhìn cái bụng gần đến tháng sinh của cô giáo trẻ mới chừng 25 tuổi, sống một mình lẻ loi nơi rừng núi xa quê, xa chồng, không ai đỡ đần chăm sóc, lại còn thêm công việc nhà giáo ở cái nơi trẻ con không sõi tiếng phổ thông này rồi nghĩ đến cái cảnh mỗi tuần 1 lần mang bụng cuốc bộ gần chục cây số xuống huyện đi chợ cho cả một tuần mà không khỏi chạnh lòng. Muốn ở lại thêm chút thời gian trò chuyện cho gian phòng bớt quạnh quẽ mà thời gian không cho phép nên phải chia tay, đi trên con đường về huyện mà trong lòng lại áy náy nghèn nghẹn không nguôi.

Cả xã Sơn Vĩ có 155 cán bộ giáo viên đang công tác tại 9 điểm trường cắm bản và 1 trường chính, trong đó có 27 giáo viên mầm non, còn lại là giáo viên tiểu học. Trong đó chỉ có 2 giáo viên trẻ mới tốt nghiệp đại học về nhận công tác là người địa phương, còn lại là giáo viên từ vùng thấp hoặc đồng bằng lên công tác. “Nhiều người lên đây công tác một thời gian rồi lại bỏ về, không phải chỉ vì điều kiện khó khăn mà hầu hết đều do phải sống xa gia đình, nhất là những giáo viên trẻ và những cô giáo có con nhỏ dưới quê, nhớ con, nhớ gia đình, thiếu thốn tình cảm nên bỏ về xuôi”.

Mạc Thị Lâm, cô giáo tiểu học quê Tuyên Quang đã lên công tác tại Sơn Vĩ được 4 năm. Đứa con gái đang học lớp 5 cũng được cô đón lên đây rồi lại đưa vào học tại trường dân tộc nội trú huyện Mèo vạc vì điều kiện quá khó khăn. Hai năm sau, chồng cô cũng nghỉ việc dưới quê, lên sống cùng vợ ở cái xã vùng biên này để tiện hang tuần xuống huyện thăm con và cũng là để gần gũi gia đình. Chồng cô không làm nghề giáo nên đành thuê một gian nhà vừa để ở, vừa để mở một cửa hang ăn ở trung tâm xã. Cô Lâm chia sẻ: “Các thầy cô giáo ở đây không phải ai cũng có điều kiện để đón chồng, con lên ở cùng. Phần vì nơi này khó khăn chả ai muốn đến, đến rồi cũng chả biết làm gì để sống. Chỉ có một số là cả hai cùng làm nghề giáo và cùng lên đây dậy học là vợ chồng được ở gần nhau. Con cái thì đều để ở quê cho ông bà chăm nom, mỗi năm về thăm một đôi lần. Giáo viên trẻ còn chưa có gia đình, nếu gắn bó ở đây lâu thì chả biết bao giờ mới có gia đình riêng, thế nên chỉ được đôi năm là lại bỏ trường về xuôi thôi anh ạ… Ở đây thiếu thốn tình cảm lắm”.

Trên con đường mòn vào điểm bản Chù Sán, điểm trường xã nhất giáp xã Đức Hạnh, Cao Bằng tôi gặp hai người đang đứng ở vệ đường. Dừng lại định để hỏi đường thì mới biết một người là cô giáo ở điểm trường Chù Sán. Những tảng đá hộc to cỡ bắp đùi trên con đường độc đạo đã bẻ gẫy phanh xe nên cả hai đành ngồi chờ thợ từ dưới xã mang đồ lên sửa. Thấy trời xâm xẩm, cô giáo trẻ khuyên tôi nên quay trở lại bởi chặng đường phía trước còn khó hơn nhiều. Hỏi thăm giây lát trước khi quay xe thì được biết người bạn trai cũng làm giáo viên mới từ huyện Yên Minh lên chơi, vì không biết đường nên cô giáo phải xuống đón từ dưới xã. Tuy là hai huyện giáp nhau những cũng phải cả năm mới đến thăm nhau được một lần, đi từ sáng sớm mà xẩm tối mới tới đây, vậy mà con đường trắc trở lại khiến hai người phải dừng lại giữa rừng, không biết đêm đến có kịp về trường hay lại phải ngủ nhờ đâu đó nơi bản làng heo hút này.

Vũ Thanh

Leave a Reply

Xây Trường Cho em

Xây Trường Cho em